*Tính cách một danh từ khoa học*

Hoàng Xuân Hãn (1942)

*Lưu ý:* Do GS. Hoàng Xuân Hãn viết tài liệu này đã lâu nên một số từ khoa
học hiện nay đã bị biến đổi. Tôi viết thêm trong ngoặc và thêm hai chữ NT
(người trích) để bạn đọc tiện tham khảo.

Phàm đặt một danh từ khoa học, phải theo những điều kiện sau nầy:

1.      Mỗi một ý phải có một danh từ để gọi

2.      Danh từ ấy phải riêng về ý ấy

3.      Một ý đừng có nhiều danh từ

4.      Danh từ phải làm cho dễ nhớ đến ý

5.      Danh từ trong các môn phải thành một toàn thể duy nhất và liên lạc

6.      Danh từ phải gọn

7.      Danh từ phải có âm hưởng Việt Nam

8.      Danh từ phải đặt theo lối đặt các tiếng thường và phải có tính cách
quốc gia.

Đó là những điều kiện để làm phương châm cho ta trong khi đặt một danh từ.
Năm điều trên thuộc về nội dung và ba điều dưới thuộc về hình thức. Nhưng
không phải lúc nào cũng có thể làm đủ tất cả những điều kiện ấy. Sau nầy tôi
bàn từng điểu kiện một và dẫn thí dụ để làm chứng.

1. Mục đích ta là làm sao cho mỗi ý về khoa học có một danh từ để gọi… Lẽ
tất nhiên là lúc ta đặt tên cho hàng ức hàng vạn ý, thế nào ta cũng còn bỏ
sót. Và có những ý dần dần sẽ phát minh. Vậy, không những ta phải đặt những
danh từ xét bây giờ, và ta lại dự bị để đặt những danh từ còn thiếu.

Vì thế cho nên ta không thể dùng từ độc âm mà đặt nên toàn thể danh từ khoa
học được. Phần lớn ta phải dùng chữ đôi, chữ ba thì mới mong đủ chữ dùng.

2. 3. Trong thường ngữ hay có tiếng đồng âm dị nghĩa hoặc trái lại đồng
nghĩa dị âm. Về khoa học ta nên tránh những loại ấy. Sau nầy tôi lấy ý khoa
học bằng tiếng Pháp. Tiếng hoa học pháp đặt ra lần lần nên còn có một vài sự
bất tiện như vậy. Ví dụ: tiếng *atome *chỉ phần chất bé nhất mà cũng chỉ một
trọng lượng của nguyên tố sánh cùng một trong lượng *ô-xy* bằng 16 gam hay
bằng một phân số hoặc một bội số của 16 gam. Hai ý ấy ta nên đặt hai danh từ
khác nhau. Nghĩa đầu ta gọi là *nguyên tử* và nghĩa sau là *đại nguyên tử *(
*nguyên tử lượng *-NT). Ví dụ thứ hai: hai tiếng *chlorure*,
*chlohydrate*đồng một nghĩa, tiếng thứ hai là do sự lạm dụng luật danh
pháp hóa học. Ta
nên đặt bằng một tiếng mà thôi: *cơ-lo-rua*.

Thí dụ như vậy rất nhiều. Mỗi lúc ta gặp một chữ Pháp ta phải suy nghĩ xem
chữ ấy có nhiều nghĩa không. Nếu có, ta nên đặt mỗi tiếng cho một ý.

Có đôi lúc, một tiếng Pháp có nhiều ý xa nhau, không thể hiểu lầm nhau, nếu
dung một danh từ Việt Nam thì cũng chẳng ngại chi. Nhất là khi nào đặt danh
từ riêng rẽ không lợi thì lại càng nên làm như vậy. Ví dụ: tiếng *point* có
thể là chỗ hai đường gặp nhau mà cũng có thể là *chừng*. Ta dùng một âm là *
điểm* để chỉ hai ý ấy: *điểm uốn* là *point d’inflexion* và *băng
điểm* là *point
de cogélation**. *

*…*

4. Tuy là nói đặt danh từ những không phải muốn đặt âm nào thì đặt. Số âm có
hạn, vật không thể dùng toàn âm mới được. Vả nếu có dùng được thì không lẽ
gì mà dùng âm một cách không có căn cứ. Khi nào một ý khoa học thực hoàn
toàn không có gì liên lạc với những ý thông thường thì sự chọn âm không quan
ngại cho lắm. Nhưng thực ra, đại đa số ý khoa học có gốc ở sự kiến thức
thường. Vậy nên ta phải chọn chữ thế nào cho dễ nhớ ý. Ví dụ: ý *géometrie *sẽ
đặt là *hình học*, tiếng *hình *dùng để nhắc đại ý chữ *géometrie*.

Những chữ làm gốc phần nhiều phải có kèm theo những chữ khác. Chớ những độc
âm phần nhiều đã có nghĩa rõ ràng sẵn rồi. Nghĩa khoa học khi nào cũng chính
xác hơn nghĩa thường, nên không thể cho nó lẫn lộn được. Những chữ như *số*,
*hơi* ta dùng đã quen, nay ta dụng vào khoa học đã đành. Những tiếng như *tụ
*, *tán* có nghĩa *converger*, *diffuser* lại không thể dùng để chỉ hai ý ấy
về khoa học được, chỉ nên lấy nó làm gốc mà phụ thêm vào một vài chữ khác để
phân biệt. Ta đặt converger là *qui tụ *và *khuếch tán*.

Trái lại, không phải dùng một hai âm mà đựng đủ cả các ý trong một danh từ.
Danh từ chỉ là một tên gọi, còn muốn hiểu rõ nghĩa thì phải học khoa học
hoặc tra tự điển và sách giáo khoa. Ở tiếng nước nào cũng vậy, người chưa
học một ý gì thì có giỏi mười mươi cũng không thể thấy chữ mà đoán nghĩa
được. Ví dụ, người chưa học khoa giải tích thì tuy biết chữ primitive có hàm
ý *đầu, trước, nguyên* chớ chẳng biết nó là gì. Nay ta đặt là *nguyên hàm*.
Người có giỏi tiếng Việt mà chưa học định nghĩa của chữ ấy thì cũng không
hiểu.

Chọn gốc chỉ để cho những người đã hiểu ý rồi có thể nhớ danh từ cho dễ.
Nguyên hàm là một *hàm số* nguyên nó có một hàm số khác là *đạo hàm.* Vậy ý
chính là nguyên và ý phụ là *hàm*. Đặt như thế thì thì người học chữ mới dễ
nhớ.

Một thí dụ nữa: Người không học tinh tường đại số thì không hiểu nghĩa
chữ *solution
d’une équation.* Có người hiểu bập bẽ thì tưởng nó là *racine* và đặt ngay
là *rễ của phương trình*. Nhưng trước là *solution* có khi không phải là *
racine*, sau nữa là người học khoa học bằng tiếng Việt Nam thì không hiểu
tại đâu mà ý ấy lại dùng tiếng *rễ*. Chính thực ra thì *solution d’une
équation* là một số mà lúc thay nó vào số chưa biết của phương trình thì
phương trình nghiệm ra thành đúng lẽ. Vì thế mà ta đặt cả hai ý *solution*và
*racine* bằng *nghiệm số* thì dễ nhớ hơn.

5. Một điều rất quan trọng là những danh từ trong một ngành và của mọi ngành
phải có liên lạc với nhau. Lúc đặt một chữ, phải nghĩ đến toàn thể khoa học,
xem có gì lân cận với ý ta còn xét. Rồi so đọ các ý ấy mà chọn tiếng và để
dành cho mỗi ý một tên.

Ví dụ: gặp chữ *réflexion *mà biết nghĩa là “sự ánh sáng gặp vật gì trơn
láng mà chiếu trở lại” thì đặt ngay là *phản chiếu.* Đến khi gặp
*réflexion*trong âm học và cơ học thì phản chiếu lại không hợp nữa.
Vậy nên ta đặt là
*phản xạ* và để dành phản chiếu cho *réflexion de la lumière *và *réflecteur
*.

Ví dụ thứ hai. Ý *dispersion de la lumière *dùng chữ *tán quang* kể đã là
hay. Nhưng ta xét những hiện tượng lân cận, ta sẽ thấy có *diffusion de la
lumière *cũng có thể đặt là tán quang được. Ta nên dành tiếng ấy cho hiện
tượng thứ hai, và gọi *dispersion de la lumière* là *tán sắc*.

…

Trên đây là … thí dụ trong hàng nghìn thí dụ mà tôi đã gặp trong lúc kiếm
danh từ. Chính đó là sự khó khăng nhất trong công việc đặt danh từ khoa học.


Ta cốt làm sao cho toàn thể khoa học có danh từ liên lạc và có tính cách duy
nhất và tổng quát. Vì lẽ ấy, cho nên hễ ta cần tới chữ nào đặt chữ ấy thì ắt
là không hay. Vẫn biết người Âu châu đã đặt ra như vậy, nhưng mỗi lúc họ chỉ
cần đặt chữ để gọi một vài ý mới, và trong lúc đó thì các ý cũ đã có danh từ
cả rồi. Còn chúng ta nay phải giải quyết một vấn đề khác hẳng: có *hàng vạn
ý mới tới trong óc ta. Ta trong một lúc phải tìm trên cho hàng vạn ý ấy*. Vì
thế mà những điều kiện kể trên đây rất là tối khẩn.

6. Trên đây là những tính cách mà một danh từ khoa học cần có về phương diện
nội dung. Sau nầy, tôi sẽ bàn đến hình thức của một danh từ thế nào thì có
thể gọi là phải lẽ.

Danh từ nên đặt gọn. Một ý mà biểu diễn bằng một xâu âm dài thì không hợp
với tai người nước ta.

Muốn thu gọn cũng là điều dễ. Ta không cần giảng ý. Quý hồ ta dùng một chữ
gốc để nhắc ý như tôi đã giảng trên. Rồi nếu cần thì phụ thuộc một vài âm
khác nữa để cho đủ ý hay là để cho riêng rẽ. Ví như chữ hydrodynamique nghĩa
là khoa học về nước chảy và nói rộng ra thì khoa học của những sự chuyển
động của các chất lỏng. Ta có thể gọi gọn là *thủy động học*.

Đó là những ý đơn. Nhưng khoa học phần lớn là ý kép. Như vậy ta phải ghép
những tên gọi ý đơn lại mà đặt nên. Nếu ý đơn mà danh từ không gọn thì ý kép
danh từ dài biết chừng nào. Ví dụ ý *équation* có thể gọi là *phương trình
thức*. Nhưng nó đi với rất nhiều ý khác (…).  Ta nên rút ngắn lại thành *phương
trình* để chắp nó với chữ khác mà thành *phương trình bậc nhất, phương trình
vi phân, phương trình có đạo hàm riêng…*. Hình như với lý luận ấy thì ta còn
rút ngắn nó lại một bực nữa cho thành *phương * hay *trình* chẳng hạn. Nhưng
đây sợ có sự lầm lẫn với âm khác, nên ta không rút ngắn nữa.

(…)

7. Danh từ khoa học bằng tiếng Việt Nam lẽ tất nhiên phải có âm hưởng Việt
âm. Trừ ra những tiếng chỉ những ý nghĩa thực là chuyên môn thì không kể,
còn những ý có dính dáng với những điều thường thức thì ắt phải làm sao cho
danh từ có thể dùng lẫn vào trong câu nói thường mà không chối tai. Sự chối
tai đây là thuộc về âm điệu chớ không phải về nghĩa. Ví dụ trong hai
tiếng *cô-níc
*và* xi-pi-ra-tơ* thì tiếng trước có âm điệu còn tiếng sau thì không.

Một câu nói tiếng ta là một đoạn nhạc. Vì thế mà có câu cũng đã ý nghĩa mà
nghe ra cụt cằn nên không thành câu. Nguyên nhân phần nhiều vì những độc âm
đứng vào địa vị quan trọng trong câu, nhất là cuối câu. Cũng vì lẽ ấy mà
tiếng ta đã đặt ra nhiều tiếng đôi gồm có hai âm mà chỉ một âm có nghĩa còn
âm kia không thêm một ý, một biến ý nào cả, ví dụ *cơ hội, tùy theo*. Vì lẽ
ấy mà ta đã từng chắp một âm ta với một chữ nho (Hán ?), mà hai chữ cùng
đồng một nghĩa (phần nhiều chữ nho đứng trước) như là những tiếng *tùy theo,
thờ phụng, danh tiếng, thì giờ, *vv…

8. Lúc đặt danh từ khoa học, ta cần phải quan tâm đến lịch sử sự đặt các
danh từ khác trong tiếng Việt. Và cũng phải theo phương pháp đặt những chữ
ấy.

Tiếng Âu châu phần lớn đã lấy gốc từ Hy lạp, La tinh. Tiếng Trung hoa dùng
lối tượng hình, hội ý và hài thanh. Còn tiếng ta thì có một phần là có lẽ
thổ âm xưa, một phần bé có liên lạc với tiếng Ấn Độ, Mã Lai và một phần lớn
là ở tiếng Trung Quốc mà ra.

(…)

Trong thời cận đại, văn hóa Âu châu tràn vào, ta lại có nhịp mượn âm của
tiếng Pháp. Ta mượn âm Pháp để chỉ những vật mới như *bơ, phó mát, ô tô, bu
long…*

Dùng chữ nho thì hoặc là ta theo văn phạm chữ nho (Hán ?), hay là ta chỉ
mượn âm và nghĩa mà thôi, rồi ta dùng nó theo văn phạm ta. Cách đầu cho ta
những chữ như *động vật, thiên tạo* cách sau cho ta những chữ như *loài hổ,
phương đông*. Có nhiều lúc ta dùng âm nho theo lối chữ nho mà thực ra người
Trung Quốc không dùng như thế, ví dụ tiếng *du thủ du thực* chữ gốc Tàu mà
chính Tàu không có.

(…)

Nói thế không phải rằng ta đặt một chữ nào cũng phải theo cho đủ các điều
kiện trên kia. Những điều kiện trên có khi thành ra mâu thuẫn, nên trong sự
định đọat, ta lại xem cách nào tiện hơn mà chọn.

Vì vậy, không thể đặt một tập danh từ theo một quy tắc nhất định, chặt chẽ.
Đó cũng là một sự dĩ nhiên, vì tiếng nói là một *sinh vật*, có xác, có hồn.
Ta không thể sửa chữa nó, thêm bớt nó một cách chỉ theo lý tưởng.

Tiếng hiện thời của các nước đều là đầy những sự vô lý. Nhưng đố ai cải cách
nó được. Tiếng vạn quốc ngữ esperanđo và ido (tiếng quốc tế - NT) mà người
ta đã đặt ra rất hợp lẽ, nhưng vì không có tính cách một dân tộc nào. Nên
chugn qui, không có một dân tộc nào theo cả.

Nói tóm lại, một danh từ khoa học cốt có những đức tính sau nầy: * đủ, rành
mạch, dễ nhớ *và* gọn. *Chớ cách đặt thì không duy nhất được. Thế cũng không
ngại gì, quí hồ tiếng đặt có âm hưởng Việt Nam và có tính cách Việt Nam là
được.

(…)

Trả lời cho